
Nguồn: Stephen M. Walt, “War Has Become Pointless”, Foreign Policy, 06/07/2026
Biên dịch: Viên Đăng Huy
Xung đột quân sự vẫn luôn tồn tại. Nó chỉ đã ngừng có ý nghĩa.
Nếu bạn chưa từng đọc Bàn về Chiến tranh, có lẽ bạn vẫn biết câu châm ngôn nổi tiếng của Carl von Clausewitz rằng: “Chiến tranh là sự tiếp nối của chính trị bằng những phương tiện khác”. Ý của ông là chiến tranh phải luôn có một mục tiêu chính trị rõ ràng, và mục tiêu đó phải định hướng cho việc chọn chiến lược cũng như cách thức sử dụng sức mạnh quân sự. Những thắng lợi rực rỡ trên chiến trường sẽ trở nên vô nghĩa nếu chúng không mang lại được kết quả chính trị mong muốn.
Dạo gần đây tôi suy ngẫm rất nhiều về vấn đề này và bắt đầu tự hỏi liệu chiến tranh trong thế giới hiện đại có đang ngày càng trở nên vô nghĩa hay không. Tôi nói điều này với sự dè chừng, bởi vì những dự đoán trong quá khứ cho rằng chiến tranh ngày càng tốn kém và ít có khả năng xảy ra hơn thường chẳng đi đến đâu. Chẳng hạn, năm 1849, Ralph Waldo Emerson từng viết: “Chiến tranh đang dần tàn lụi, và hòa bình thế giới chắc chắn sẽ đến như cách văn minh thắng thế trước sự dã man”. Trước Thế chiến I, một chủ ngân hàng người Ba Lan tên là Jean de Bloch lập luận rằng công nghệ quân sự đã khiến chiến tranh trở nên quá nguy hiểm, đến mức không thể thực hiện được “nếu không muốn tự sát”.
Tương tự, cuốn Ảo tưởng vĩ đại (The Great Illusion) của Norman Angell xuất bản năm 1909 cảnh báo rằng sự phụ thuộc lẫn nhau đồng nghĩa với việc chi phí của một cuộc chiến giữa các cường quốc sẽ vượt xa mọi lợi ích có thể đạt được. Gần đây hơn, các học giả như John Mueller và Steven Pinker đều cho rằng chiến tranh đang dần trở nên lỗi thời, chỉ để rồi chứng kiến những cuộc xung đột mới bùng nổ ở quy mô mà họ không lường trước được. Như sử gia quân sự quá cố Michael Howard từng mỉa mai trong bài phê bình cuốn Sự rút lui khỏi ngày tận thế của Mueller: một người thận trọng khi đọc câu chiến tranh đang dần tàn lụi “sẽ kiểm tra lại xem hầm trú ẩn bom của mình có còn tốt không”.
Vì vậy, tôi sẽ không nói với bạn rằng chiến tranh đang biến mất. Không hề như vậy. Nó chỉ đang ngày càng trở nên vô nghĩa. Hãy nhìn vào những ghi chép lịch sử gần đây.
Mỹ đã tham chiến rất nhiều kể từ Thế chiến II, và không cuộc chiến nào trong số đó chống lại một đối thủ ngang tầm thực sự hay một cường quốc khác. Thay vào đó, Mỹ đã đối đầu với một loạt các quốc gia yếu thế, hầu hết đều thiếu những đồng minh mạnh. Thế nhưng, ngoại trừ cuộc chiến vùng Vịnh đầu tiên năm 1991 và cuộc xâm lược Grenada năm 1983, thành tích của họ không mấy ấn tượng. Chiến tranh Triều Tiên là một kết quả hòa, Việt Nam là một thất bại rõ ràng. Chiến tranh vùng Vịnh là một thắng lợi, phần lớn vì Mỹ không phải là bên khởi xướng, họ có sự hỗ trợ của nhiều đồng minh, và vì Tổng thống George H. W. Bush đủ sáng suốt để bám sát một mục tiêu chính trị giới hạn (đẩy lui Iraq ra khỏi Kuwait và giải giáp phần lớn sức mạnh quân sự của họ). Sự can thiệp của Mỹ vào Somalia kết thúc bằng một cuộc rút lui nhục nhã; chiến tranh Kosovo về cơ bản là hòa; và những gì được gọi là “cuộc chiến vĩnh cửu” ở Iraq và Afghanistan là những thất bại đắt giá. Cuộc tấn công vô lý của Donald Trump vào Iran là một thảm họa chiến lược, điều mà những người ủng hộ đang cố gắng tuyệt vọng (và kém thuyết phục) để phủ nhận.
Thay vì làm cho Mỹ an toàn hay thịnh vượng hơn, hầu hết các cuộc chiến này đều để lại cho đất nước một vị thế tồi tệ hơn so với việc họ không bao giờ tham chiến. Bạn có thể thêm vào danh sách này chiến dịch tàn sát của Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth nhắm vào những kẻ bị cáo buộc buôn lậu ma túy từ Mỹ Latinh — một chiến dịch tiêu tốn hàng tỷ USD, giết chết những người vô tội, vi phạm luật pháp quốc tế nhưng hầu như không có tác động gì đến nguồn cung ma túy bất hợp pháp. Tóm lại: Những cuộc chiến này thật vô nghĩa.
Còn Liên Xô cũ hay nước Nga ngày nay thì sao? Xâm lược Afghanistan năm 1979 là một bước đi sai lầm nghiêm trọng, làm trầm trọng thêm các vấn đề kinh tế của Liên Xô và khiến sự sụp đổ của nó trở nên dễ xảy ra hơn. Cuộc xâm lược Ukraine năm 2022 đã trở thành một vũng lầy tốn kém không kém, và tất cả những gì Vladimir Putin có được sau bốn năm chiến tranh cùng hàng trăm nghìn người chết và bị thương chỉ là khoảng 20% lãnh thổ ban đầu của Ukraine. Nga có thể đã phát động cuộc chiến chủ yếu để ngăn Ukraine ngả theo phương Tây, nhưng Putin rõ ràng đã đánh giá sai năng lực của quân đội mình, sự kiên cường của người Ukraine, và khả năng nhận được sự hỗ trợ từ bên ngoài của Kyiv. Ngay cả khi cuộc chiến bắt nguồn từ những mối quan ngại an ninh thực sự của Nga, giờ đây nó cũng đang dần trở nên vô nghĩa. Và đừng quên những nỗ lực của Nga nhằm duy trì chế độ Assad ở Syria cuối cùng đã thất bại — và việc họ ủng hộ các nhà độc tài ở châu Phi cũng không mang lại lợi ích gì nhiều trong những ngày này.
Hay hãy nhìn Israel, quốc gia có rất nhiều chiến thắng chiến thuật nhưng dường như chưa bao giờ mang lại những lợi ích chiến lược lâu dài. Nạn diệt chủng ở Gaza chưa xóa sổ được Hamas, và vô số đợt ném bom cùng việc tái chiếm miền Nam Lebanon cũng chưa tiêu diệt được Hezbollah. Thay vì làm cho đất nước an toàn hơn, niềm tin của Israel rằng họ có thể ném bom để giành chiến thắng đang biến họ thành một quốc gia bị ruồng bỏ và đe dọa mối quan hệ đặc biệt với Mỹ. Cùng với việc tiếp tục đối xử tệ bạc với người Palestine ở Bờ Tây, sự nghiện chiến tranh của Israel đang ngăn cản việc bình thường hóa quan hệ với hầu hết các nước láng giềng — một bước đi vốn sẽ mang lại nhiều lợi ích cho tương lai lâu dài hơn là những cuộc chiến không hồi kết chống lại họ. (Tôi cũng muốn nói điều tương tự về Hamas, nhóm mà vụ tấn công đẫm máu vào Israel ngày 7/10/2023 cũng là một tội ác chiến tranh và không giúp ích gì cho mục tiêu về một nhà nước Palestine độc lập).
Thực tế, bất cứ nơi nào ta nhìn vào, ta đều thấy thêm những ví dụ về các cuộc xung đột vô nghĩa. Saddam Hussein đã khởi xướng hai cuộc chiến — một bằng cách xâm lược Iran và một khi chiếm Kuwait năm 1990 — và cả hai đều là những thất bại thảm hại. Các phe phái trong nội chiến Sudan và Libya chỉ thành công trong việc làm tổn thương chính đất nước mình; bất kể phe nào giành chiến thắng cuối cùng, đó cũng chỉ là một chiến thắng với cái giá rất đắt. Sự can thiệp của Ả Rập Saudi vào Yemen không đạt được gì ngoài hàng chục nghìn cái chết vô nghĩa, và những cuộc đụng độ biên giới mà Ấn Độ và Pakistan thỉnh thoảng sa vào cũng chẳng mang lại kết quả quyết định nào. Đừng để tôi bắt đầu nói về những cuộc chiến kéo dài ở Congo.
Trong khi đó, ai đang hưởng lợi? Trung Quốc, vì họ tránh xa tất cả những cuộc chiến này và tập trung xây dựng sức mạnh trong nước, theo đuổi sự thống trị về khoa học và công nghệ, đồng thời xây dựng ảnh hưởng toàn cầu thông qua thương mại, đầu tư, ngoại giao đa phương và cung cấp các công nghệ xanh. Như cách Mỹ đã làm trong phần lớn thế kỷ 19, việc giữ khoảng cách trong khi các cường quốc khác tự tiêu hao sức lực trong những cuộc chiến hủy diệt hóa ra lại là một chiến lược thông minh.
Chuyện gì đang xảy ra ở đây? Tại sao khó tìm thấy những cuộc chiến đáp ứng tiêu chí của Clausewitz, nơi người khởi xướng đề ra mục tiêu chính trị rõ ràng và đạt được nó với cái giá hợp lý? Tôi có thể nghĩ ra ít nhất bốn lý do.
Thứ nhất, vũ khí hạt nhân. Đối với các cường quốc (và một số nước khác), việc sở hữu vũ khí hạt nhân đặt ra giới hạn rõ ràng cho những gì các quốc gia khác có thể làm với họ. Vũ khí hạt nhân không giúp ích nhiều cho việc chiến đấu, nhưng chúng rất hiệu quả trong việc ngăn chặn các quốc gia khác xâm lược bạn. Đúng là các nước đôi khi tấn công một quốc gia có vũ khí hạt nhân (Ai Cập và Syria đã tấn công Israel vào tháng 10/1973, và Ấn Độ với Pakistan đã có những cuộc đụng độ biên giới nghiêm trọng), nhưng trong những trường hợp này, bên khởi xướng chỉ có mục tiêu giới hạn và không hy vọng hay cố gắng chinh phục đối thủ. Bóng ma hạt nhân loại bỏ khả năng giành chiến thắng quyết định, buộc mục tiêu chính trị của chiến tranh phải bị thu hẹp. Tuy nhiên, nếu chiến tranh chỉ đạt được những mục tiêu hạn chế, nó cũng giới hạn cái giá mà một quốc gia sẵn sàng chi trả để đạt được chúng.
Thứ hai, sự khó khăn trong việc đạt được các mục tiêu chính trị quyết định bị khuếch đại bởi sức mạnh của chủ nghĩa dân tộc hiện đại, thứ khuyến khích các xã hội chiến đấu như những con hổ trước kẻ xâm lược nước ngoài. Người Mỹ đã phát hiện ra điều này ở Việt Nam, nhanh chóng quên đi bài học, và phải được nhắc lại một lần nữa ở Iraq và Afghanistan. Putin đã phạm sai lầm tương tự ở Ukraine. Những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái ở Israel và những người theo chủ nghĩa dân tộc Palestine đều đánh giá thấp sự kiên trì của căn tính dân tộc của đối phương và sự sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ cộng đồng của chính mình, đó là một lý do khiến cuộc xung đột đó kéo dài mà không có hồi kết.
Thứ ba, chiến tranh ngày càng vô nghĩa vì toàn cầu hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau giúp các quốc gia trở nên giàu có hơn mà không cần phải bành trướng. Mỹ không cần kiểm soát một khu vực như Greenland để hưởng lợi từ các tài nguyên ở đó: các công ty Mỹ có thể đầu tư nếu có cơ hội thực sự, hoặc người Mỹ có thể giao thương với bất kỳ công ty nước ngoài nào thực hiện việc đó. Và như Andrew Coe cùng Jonathan Markowitz đã chứng minh, lợi ích kinh tế của việc chinh phục ngay cả những vùng lãnh thổ giá trị cao (như một mỏ dầu lớn) cũng tương đối nhỏ đối với các quốc gia vốn đã có nền kinh tế lớn và đa dạng. Để lấy một ví dụ cực đoan, nếu Trung Quốc sáp nhập Đài Loan một cách êm thấm, nó cũng chỉ bổ sung thêm 5% vào GDP tổng thể của Trung Quốc — không phải là không đáng kể, nhưng tự thân nó không phải là yếu tố thay đổi cuộc chơi. Và Đài Loan vốn đã là một nền kinh tế phát triển cao. Phép tính này khác biệt đối với các nền kinh tế nhỏ hơn, nhưng ngay cả với họ, việc làm giàu thông qua phát triển nội tại vẫn là một phương án tốt hơn nhiều so với việc chiếm đoạt lãnh thổ để kiếm lời kinh tế.
Xin lưu ý: Tôi không cho rằng sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế khiến chiến tranh trở nên bất khả, cũng không phủ nhận rằng việc kiểm soát các nút thắt địa lý then chốt như eo biển Hormuz mang lại cho một vài quốc gia lợi thế giá trị. Tôi chỉ đơn giản chỉ ra rằng nhìn chung, các quốc gia dễ dàng đạt được điều mình muốn thông qua thương mại hơn là thông qua chiến tranh. Hơn nữa, khả năng “vũ khí hóa sự phụ thuộc lẫn nhau” của người khác có thể làm tăng chi phí chiến tranh và khiến tất cả các quốc gia — bao gồm cả các cường quốc — khó đạt được các mục tiêu chính trị đầy tham vọng hơn. Các nước vẫn sẽ gây chiến, nhưng điều đó không có nghĩa là làm như vậy là khôn ngoan.
Cuối cùng là công nghệ và tác động của nó trên chiến trường hiện đại. Những người bị mê hoặc bởi sự kỳ diệu của công nghệ F-35 hay khả năng tác chiến binh chủng hợp thành phức tạp của Mỹ, Israel và một vài quốc gia khác đã không nhận ra rằng chiến tranh đang dần chuyển dịch có lợi cho lực lượng phòng thủ địa phương, ngay cả khi đối đầu với những kẻ thù có vẻ vượt trội. Mỹ đã làm chủ bầu trời, khả năng giám sát không gian chiến trường phức tạp theo thời gian thực và ưu thế áp đảo về hỏa lực ở cả Iraq và Afghanistan, nhưng họ vẫn thua. Quân đội Nga đông đảo hơn đáng kể so với Ukraine và đã cải thiện hiệu suất quân sự đáng kể từ năm 2022, nhưng họ vẫn phải chịu tổn thất nặng nề cho mỗi km vuông giành được.
Xu hướng này không chỉ do sự xuất hiện của drone rẻ tiền nhưng ngày càng tinh vi (dù rõ ràng chúng rất quan trọng), mà còn do sự phổ biến của vũ khí nhỏ, khả năng nhắm mục tiêu và giám sát được cải thiện, sự phát triển của thiết bị nổ tự chế và việc sử dụng đánh bom liều chết, những thứ đã khiến việc chiếm giữ hoặc giữ lãnh thổ đối phương trở nên khó khăn hơn. Nói cách khác, những sự phát triển này đã thu hẹp quy mô của không gian chung toàn cầu mà Mỹ từng thống trị và mở rộng cái mà Barry Posen của MIT gọi là “vùng tranh chấp”, nơi những đối thủ yếu hơn vẫn có thể gây ra những cái giá nghiêm trọng cho các cường quốc. Hải quân Mỹ vẫn là một lực lượng chiến đấu đáng gờm, nhưng có lý do khiến họ không thể tự do di chuyển bên trong vịnh Ba Tư những ngày này. Khi kết hợp với tinh thần dân tộc mạnh mẽ, những diễn biến trong chiến tranh này đã khiến việc cưỡng ép các chính phủ nước ngoài hoặc khuất phục những dân cư nổi loạn trở nên khó khăn hơn.
Đừng hiểu lầm tôi: Tôi không nói rằng các quốc gia có thể ngừng lo lắng về an ninh và bắt đầu biến gươm giáo thành cày cuốc. Rốt cuộc, chính những sự chuẩn bị mà một số nước thực hiện để tự vệ đã khiến những nước khác khó đạt được lợi ích tương xứng với chi phí bỏ ra. Nói cách khác, duy trì cán cân quyền lực thuận lợi và khả năng răn đe đáng tin cậy vẫn là điều quan trọng. Nhưng chúng ta cần nhận ra điều này có nghĩa là gì: Tự vệ đang trở nên dễ dàng hơn và các cuộc chiến tranh xâm lược ngày càng trở nên vô nghĩa. Chúng chẳng hiệu quả với Mỹ, hay với bất kỳ ai khác. Hãy ghi nhớ điều đó vào lần tới khi một chuyên gia tư vấn, một nhà vận động hành lang hay một nhà lãnh đạo nước ngoài tư lợi nào đó nói với bạn rằng một quốc gia khác vừa là mối nguy hiểm chết người cần phải ngăn chặn ngay lập tức, vừa là một bàn cờ chính trị mỏng manh dễ lật đổ. Họ đã sai.
Stephen M. Walt là cây bút chuyên mục tại Foreign Policy và Giáo sư Quan hệ Quốc tế Robert và Renée Belfer tại Đại học Harvard.
